Gốc > Bài viết > Thơ Trương Lương >

Test djkasjl

 

Nấm phụ khoa nguyên nhân gây ra bệnh là nhiều loại Nấm Candida khác nhau, trong số này chủ yếu là

.(chiếm tới 80%).Bình thường Nấm Candida Albicans là vi sinh vật ký sinh ở một số nơi trên da và bên

trong âm đạo, là một phần hệ vi sinh vật bình thường trong miệng, ruột và âm đạo . Môi trường axít

trong âm đạo giữ cho nấm không bùng phát. Nếu môi trường âm đạo bị kiềm hóa vì một lý do nào đó,

nấm bùng phát (phát triển mạnh) gây ra chứng nhiễm nấm âm đạo

Nguyên nhân và triệu chứng nấm phụ khoa cách điều trị và phòng tránh

Môi trường acid âm đạo thường thay đổi trong khi hành kinh, mang thai, khi mắc bệnh tiểu đường, dùng

kháng sinh, thuốc ngừa thai qua đường uống và các thuốc chứa steroid, rửa âm đạo thường xuyên bằng

xà phòng. Ứ dịch âm đạo và những kích thích âm đạo là điều kiện kích thích cho nấm phát triển.

Triệu chứng bệnh nấm phụ khoa

Nhiễm nấm thường không nguy hiểm nhưng gây ra nhiều bất tiện. Hầu như phụ nữ ai cũng có thể từng

bị nhiễm nấm trên dưới một lần trong đời. Dưới đây là các triệu chứng thường gặp trong nhiễm nấm:

Ngứa và nóng ran ở cơ quan sinh dục ngoài (âm hộ & âm đạo)

Dịch tiết âm đạo (huyết trắng bệnh lý) giống như pho-mát

Đau khi giao hợp

Sưng tấy âm hộ

Soi tươi cho kết quả sợi nấm dương tính.

Khoảng 75% phụ nữ trên thế giới bị nhiễm nấm (khoảng 50% phụ nữ bị nhiễm khuẩn hơn một lần trong

đời). Nếu Bạn nghi ngờ mình bị nhiễm nấm, hãy trao đổi với bác sĩ để bác sĩ chẩn đoán xác định nó là

nấm & cho bạn phương pháp điều trị.

Nguyên nhân nấm phụ khoa chủ yếu do

Do môi trường: những người làm việc thường xuyên trong môi trường ẩm ướt như phải dầm mình trong

ruộng đồng, ao hồ hoặc mặc quần áo bó sát, ít có điều kiện giữ vệ sinh bộ phận sinh dục là môi trường

thuận lợi cho nấm phát triển.

Do lây lan từ bên ngoài: Do quan hệ tình dục với người mang nguồn bệnh, dùng chung khăn lau và đồ

dùng của người bệnh.

Do thay đổi độ PH của âm đạo: Sự thay đổi nội tiết trong cơ thể do dùng thuốc ngừa thai, thời kì mang

thai ở những tháng sau cùng, giai đoạn tiền mãn kinh làm PH âm đạo chuyển sang môi trường toan

nhiều hơn, điều này giúp nấm phát triển.

Do mất cân bằng vi khuẩn âm đạo : Bình thường ở âm đạo có loại vi khuẩn sống trong âm đạo và giúp

âm đạo chống lại sự gây bệnh của vi trùng khác và không cho nấm phát triển gây bệnh. Khi vì lý do nào

đó như dùng kháng sinh lâu dài tạo môi trường thuận lợi cho nấm phát triển.

Do bệnh lý: thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, bệnh suy giảm miễn dịch, dùng thuốc corticoide

kéo dài.

Điều trị nấm phụ khoa như thế nào?

Một số thuốc được áp dụng điều trị hiện nay là nystatin, imidazone (miconazone, econazone,

clotrimazone), fluconazol, ketoconazol. Có thể điều trị viên đặt âm đạo hàng ngày hoặc uống, tiêm tùy

vào tình trạng cụ thể của bệnh. Thời gian điều trị phụ thuộc từng loại thuốc, cách dùng, tình trạng bệnh,

có thể dùng một liều duy nhất hoặc kéo dài 7-10 ngày.

Lưu ý: Cần điều trị đồng thời người có quan hệ tình dục

Phòng ngừa bệnh nấm phụ khoa bằng cách

Không mặc đồ lót quá chật hoặc đồ lót có chất liệu từ sợi tổng hợp, nên mặc quần lót bằng cotton

Không nên mặc đồ lót suốt cả ngày, chỉ nên mặc vào ban ngày và khi ngủ thì không cần mặc

Giữ khô ráo âm hộ sau khi tắm và trước khi mặc đồ, trước khi đi ngủ

Sau mỗi lần đi vệ sinh, dùng giấy vệ sinh mềm (không màu, không chất khử mùi) lau theo hướng từ

trước âm hộ ra sau hậu môn.

Nếu Bạn đi bơi hoặc mặc các quần bó đi dạo ngoài trời thì nên thay ra ngay khi có thể.

Không dùng các dụng cụ thụt rửa âm đạo, không dùng các sản phẩm vệ sinh phụ nữ dưới dạng xịt phun,

không dùng các sản phẩm có chất khử mùi và có màu lau rửa cơ quan sinh dục ngoài.

Không nên tắm bồn, không ngâm mình trong nước nóng.

Bạn nên đến bác sĩ lần đầu tiên để bác sĩ chẩn đoán. Khi bác sĩ đã chẩn đoán xác định Bạn bị nấm thì bác

sĩ cần phải rà soát thêm các bệnh lý lây lan qua đường tình dục khác. Đôi khi nấm chỉ là một cái cớ để

tầm soát các bệnh nặng hơn. Nếu Bạn tự điều trị nấm mà không biết rằng Bạn còn bị các nhiễm khuẩn

khác thì tình hình ngày càng tệ hại hơn.

Viêm phần phụ

I. Đại cương

Viêm phần phụ cấp là tổn thương hay gặp. Thường gặp ở người trẻđường vào của bệnh là qua cổ tử

cung ( viêm cổ tử cung, viêm niêm mạc tử cung), qua TC vào vòi trứng hoặc đường bạch mạch, cũng có

khi do đường máu

II. Nguyên nhân:

Do người chồng: Phần lớn do bệnh lây lan theo đường tình dục, lậu chiếm 40%, Chlammydia độ 40%.

Do thầy thuốc: Do thăm khám, , làm các thủ thuật nạo hút thai, đặt DCTC, đỡ đẻ, KSTC, chụp TCVT...

không vô trùng

Đặt dụng cụ tử cung cũng là một yếu tố thuận lợi

Do nội sinh: Mất cân bằng nội tiết, miễn dịch làm cho các vi khuẩn ở âm đạo, cổ TC trở nên gây bệnh

III. Mầm bệnh:

Lậu cầu. Chlamydia trachomatis, các vi trùng yếm khí, E.Coli, liên cầu, tụ cầu phối hợp

Các nguy cơ thường gặp: tuổi trẻ các chất nhầy ở cổ tử cung nhiều, vệ sinh phụ nữ chưa đảm bảo, hoạt

động tình dục mạnh, quan hệ tình dục rộng rãi, mang dụng cụ tử cung

IV. Chẩn đoán:

1.Hình thái lâm sàng điển hình: Trên phụ nữ trẻ, đau hạ vị và 2 hố chậu, sốt, khí hư bẩn

Nắn vùng hạ vị đau, phản ứng nhẹ

Đặt mỏ vịt thấy khí hư chảy từ trong buồng tử cung ra, âm đạo cổ tử cung đỏ. Thăm khám trong âm đạo

nắn cổ tử cung đau, 2 phần phụ phù nề, nắn đau

2. Hình thái không điển hình:

50% các trường hợp không sốt, 20% chỉ đau 1 bên hố chậu, 40% có rong kinh

Các hình thái bán cấp thường gặp do Chlamydia hoặc do dùng kháng sinh ngay từ đầu nên sốt ít, khám

TC bình thường hoặc có 1 khối bên cạnh TC nắn đau

Chẩn đoán phân biệt: Viêm ruột thừa, viêm đại tràng, chửa ngoài tử cung, huyết tụ thành nang, lạc nội

mạc tử cung, u nang buồng trứng xoắn

V. Xét nghiệm:

Máu: BC đa nhân cao ( 50% sốlượng bình thường, tốc độ máu lắng ít có giá trị

Chẩn đoán huyết thanh với Chlamydia, với giang mai

Bệnh phẩm ở âm đạo và cổ tử cung ít có giá trị. Bệnh phẩm ở vòi trứng và ổ bụng có giá trị nhiều ( qua

soi hay mở bụng)Tiến triển:

Nếu điều trị đúng và kịp thời sau 48h bệnh nhân hết đau, sốt, triệu chứng thực thể giảm. Cần điều trị

kháng sinh đủ liềuNếu siêu âm đường âm đạo ĐK khối viêm > 8cm có chỉ định phẫu thuật tránh vỡ khối

mủ vào ổ bụng

Di chứng: ứ nước vòi trứng, trở thành viêm phần phụ mãn tính, vô sinh do tắc dính vòi trứng.

VI. Điều trị:Chlamydia dùng nhóm Quinolon ( Oflocet 200mg tiêm TM 2lần/ ngày hay Metronidazol

250mg 3lần/ ngày) Tetracyclin đường TM ( Vibramicin) TM 100mg x 3lần/ ngày

Lậu cầu: Cephalosporin thế hệ 3- Claforal 3g tiêm TM trong 24h kết hợp với Metronidazol

Các bệnh nhân khác vi khuẩn thường là Enterobacterie, yếm khí, Haemophilus, liên cầu.Thường dùng

kháng sinh TM trong 7 ngày sau đó dùng đường uống đến khi hết các triệu chứng lâm sàng

Nghỉ ngơi tuyệt đối, chống viêm bằng Cocticoit ( 0,5mg x 3viên/ ngày), chỉ bắt đầu dùng khi có tác dụng

của kháng sinh, dùng trong 1 tháng

Chỉ can thiệp phẫu thuật khi điều trị nội khoa không kết quả. Dẫn lưu mủ qua ổ bụng hay mở cùng đồ.

Phẫu thuật mở ổ bụng khi có viêm phúc mạc

Điều trị dự phòng: Điều trị khỏi bệnh lậu

Phát hiện và điều trị viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung

Vô trùng tuyệt đối khi làm các thủ thuật sản khoa

UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

I.Đại cương:

Là bệnh hay gặp chiếm tỉ lệ cao trong tổng số các loại ung thư (chiếm 11% trong toàn bộ các loại ung thư

của cả 2 giới, chiếm 22,35% trong ung thư sinh dục nữ)

Tuổi thường gặp trong khoảng 30-59, đỉnh cao 45-55, tuy nhiên vẫn có thể gặp ở tuổi 20, 90-95% trường

hợp là ung thư thượng bì gai (spinous cell carcinoma), 5-10% còn lại là ung thư thượng bì tuyến (adeno

carcinoma)

Các yếu tố thuận lợi:

- Giao hợp sớm trước 17 tuổi

- Giao hợp với nhiều người

- Sinh đẻ nhiều lần

- Nhiễm khuẩn sinh dục, đặc biệt là vius herpes type II (HVII) và Papiloma vius 16-18, 31-33 (HPV 16-18,

31-33 gây condyloma ở cổ tử cung) bệnh này lây qua đường tình dục lứa tuổi 18-30, đặc biệt là trong lúc

có thai, hầu hết condyloma tự khỏi sau 6th - 1năm hoặc sau điều trị, 10% biến thành nghịch sản)

Khởi đầu của ung thư cổ tử cung không có triệu chứng lâm sàng nhưng cổ tử cung có thể dễ dàng sờ

được, nhìn được nên có thể phát hiện được ung thư cổ tử cung

Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung có ý nghĩa quan trọng vì ở giai đoạn ung thư trong biểu mô có thể

điều trị khỏi 100% với phương pháp: Laser, khoét chóp, cắt tử cung

Giai đoạn I-IIa: khỏi 80-85% trong 5 năm với các phương pháp diều trị nặng nề tàn phá như biện pháp

Curi, cắt âm đạo mở rộng, vét hạch, bổ xung bằng liệu pháp Cobalt

Giai đoạn IIb: Khỏi chỉ còn 55% trong 5 năm

Giai đoạn III: Khỏi chỉ còn 25% trong 5 năm

II. Giải phẫu bệnh lý:

1. Đại thể:

- Hình thái sùi: Các nụ sùi dễ rụng, dễ chảy máu, dễ nhiễm khuẩn, hình thái này thâm nhiễm ít, lan tràn

chậm- Hình thái loét: Có bờ lõm sâu xuống, bờ rắn, nền có nhiều nụ nhỏ, nhiều mủ, ung thư tiến triển

đưa đến hoại tử cổ tử cung gây thành 1 hố lõm, hình thái này thâm nhiễm và lan tràn sâu, phần phụ và

các hạch bạch huyết di căn nhanh

- Hình thái thâm nhiễm: ít gặp hơn, tổn thương là một vùng thâm nhiễm cứng, ung thư ăn sâu vào lớp

đệm trong khi mặt ngoài cổ tử cung tưởng như bình thường nhưng cổ tử cung đã thay đổi thể tích, loại

này lan tràn và di căn nhanh

- Hình thái ở ống cổ tử cung: Tổn thương ung thư trong CTC giai đoạn đầu chẩn đoán khó vì mặt ngoài

CTC không thay đổi trong khi ung thư đã khoét sâu vào lớp đệm

1.Vi thể:

- Ung thư biểu mô kép dẹp gai 90-95% - Ung thư biểu mô tuyến 5-10%, tiên lượng xấu hơn ung thư tế

bào gai2. Sự phát triển lan rộng và di căn của ung thư cổ tử cung:

- Lan theo bề mặt: lan đến eo tử cung, xuống âm đạo, lan lên mặt trước âm đạo, sang bàng quang, có

thể thủng gây dò bàng quang âm đạo, lan sang trực tràng gây dò trực tràng âm đạo- Lan đến dây chằng

rộng 2 bên, dây chằng tử cung cùng, chèn ép niệu quản.

- Di căn theo đường bạch huyết: đến các hạch nằm dọc các mạch chậu

đến cạnh động mạch chủ

- Lan rộng theo đường máu: gây di căn các tạng trong ổ bụng, phổi, màng phổi

Đánh giá lan rộng: Thăm âm đạo, thăm trực tràng và nền dây chằng rộng.Soi bàng quang đánh giá tổn

thương bàng quang, chụp bạch mạch, UIV, soi trực tràng,Scanner...

Phân chia giai đoạn

- Giai đoạn 0: Ung thư bên trong biểu mô

- Giai đoạn I: Tổ chức ung thư khu trú ở cổ tử cung

Ia: Tổn thương đường kính

Ib: Tổn thương đường kính >2cm, có thể phát hiện bằng mắt thường

- Giai đoạn II: Ung thư lan tới âm đạo

IIa:Ung thư chưa lan quá 1/3 trên âm đạo 1 hoặc 2 bên dây chằng rộng phần sát tử cung

IIb:Ung thư lan ra 2/3 trên âm đạo vào nền 2 dây chằng rộng

- Giai đoạn IIII: Ung thư lan tới 1/3 dưới âm đạo

IIIa:1/3 dưới âm đạo bị xâm nhiễm nhưng vách chậu chưa bị xâm nhiễm

IIIb: Xâm nhiễm tới vách chậu

- Giai đoạn IV: Ung thư lan tới cơ quan vùng chậu và xa hơn

IVa: Ung thư lan tới các cơ vùng chậu

IVb: Ung thư lan xa hơn

III. Chẩn đoán

Cơ năng:

1. Ra máu khi có va chạm: máu đỏ, số lượng ít khi có giao hợp, làm vệ sinh. Ra máu lập lại nhiều hơn

2. Khí hư hôi, thối do tổ chức ung thư hoại tử, nhiễm khuẩn gây nên.

3. Đau: là triệu chứng muộn khi co chèn ép rễ thần kinh

4.Triệu chứng tiết niệu: nhiễm khuẩn đường niệu, đái rắt, buốt, đái khó khi ung thư cổ tử cung xâm lấn

tới bàng quang

5.Thiếu máu: do chảy máu

Thực thể:

Khám: có thể thấy các dạng sùi loét dễ chảy máu,cổ tử cung to, cứng

CLS:

- Phiến đồ tế bào âm đạo, cổ tử cung.

- Sinh thiết có hướng dẫn bởi soi cổ tử cung: cho phép nhìn rõ ranh giới khu trú tổn thương để sinh thiết

đúng chỗ (giữa biểu mô lát và trụ, các tổn thương lát đá, chấm đáy...)

- Khoét chóp CTC để chẩn đoán:

IV.Thái độ xử trí:

1. Giai đoạn ung thư trong biểu mô (invitro):

ở phụ nữ trẻ còn mong muốn có thai => khoét chóp, hoặc cắt cụt cổ tử cung, sau đó theo dõi bằng phiến

đồ âm đạo và soi cổ tử cung 6tháng/lần.

2. Giai đoạn 1:

Liệu pháp Curie trước phẫu thuật 6 đến 8 tuần, PT cắt tử cung hoàn toàn + cắt 2 phần phụ, cắt bỏ phần

trên âm đạo (PT Wertheim-Meigs) triệt đẻ hơn có thể cắt bỏ tổ chức tế bào cạnh tử cung, trên đường

niệu quản, vét hạch hố chậu sau đó dùng liệu pháp Cobalt sau PT

3. Giai đoạn 2: Phác đồ

Liệu pháp Curie- liệu pháp Cobalt - PT

Hoặc liệu pháp Curie- PT- liệu pháp Cobalt

4. Giai đoạn III;IV :

Chỉ dùng các liệu pháp chiếu xạ Cobalt đơn thuần hoặc kết hợp Curie PT chỉ dẫn lưu tạm thời.

V. Tiên lượng

Sống trên 5 năm 100% với K trong biểu mô.

80% với I, IIa

50% với IIb

35% với III

5 đến 10% với gđ IV

Sinh lý bệnh hô hấp

I. ĐẠI CƯƠNG

Hô hấp là quá trình trao đổi hơi khí liên tục giữa cơ thể sống và môi trường ngoài. Quá trình hô hấp

được chia làm hai giai đoạn chính:

1. Hô hấp ngoài được thực hiện nhờ bộ máy hô hấp, chủ yếu là chức năng của phổi nên còn được gọi là

hô hấp phổi. Giai đoạn này phụ thuộc vào khả năng thông khí của phổi, khả năng khuếch tan khí qua

màng phế bào- mao mạch và tình trạng tuần hoàn của các mao mạch phổi.

2. Hô hấp trong gồm:

- Vận chuyển khí O2 và CO2 dưới dạng kết hợp với huyết cầu tố, như bộ máy tuần hoàn và máu.

- Hô hấp tế bào được thực hiện qua màng tế bào dưới sự tham gia của hệ thống men hô hấp, nhằm giải

phóng năng lượng cần thiết để cơ thể sống và phát phát triển.

Như vậy quá trình hô hấp để cung cấp O2 cho cơ thể và đào thải CO2 thừa không phải chỉ là nhiệm vụ

riêng của bộ máy hô hấp mà còn có sự tham gia của hệ tuần hoàn, máu và chuyển hóa tổ chức. Những

quá trình này lại chịu sự điều tiết của hệ thần kinh trung ương do đó trong điệu kiện bệnh lý, chức năng

hô hấp bị rối loạn có thể ảnh hưởng sâu sắc tới các chức phận khác của toàn bộ cơ thể, ngược lại rối

loạn hệ thần kinh trung ương, rối loạn tuần hoàn - máu cũng như biến đổi chuyển hóa tổ chức nếu có

thể gây thiếu oxi và rối loạn chức năng hô hấp.

Sự điều hòa hô hấp được thực hiện nhờ có sự toàn vẹn của trung tâm hô hấp qua các cơ chế điều hòa

thần kinh và thể dịch (hình 1). Trong cơ chế điều hòa phản xạ thần kinh, vỏ não có một vai trò quan

trọng: cắt bỏ vỏ não ở động vật thí nghiệm làm cho khả năng thích nghi của chúng với các thay đổi hoạt

động giảm, gây khó thở kéo dài và rõ rệt cả với lao động rất nhẹ. Ở người, có thể tự ý thở nhanh, thở

chậm, thở nông, thở sâu hoặc ngừng thở trong một thời gian nhất định tùy theo ý muốn của mình, khi

vỏ não bi ức chế (ngủ, gây mê) hô hấp sẽ chậm và sâu. Các trạng thái tâm lý đều có thể gây biến đổi hô

hấp (xúc cảm, sợ hãi, tức giận…) Các tín hiệu báo trước giờ lao động, thi đấu… thường gây phản xạ tăng

cường hô hấp.


Nhắn tin cho tác giả
Trương Hoàng Anh @ 10:19 10/12/2014
Số lượt xem: 1205
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến